Nội dung chi tiết

Chính phủ điện tử: Cần "hoành tráng" tầm nhìn
Tác giả: UBND Điện Bàn .Ngày đăng: 01/11/2007 .Lượt xem: 7284 lượt. [In bài]

Hai năm nữa, v� o 2010, Chính phủ sẽ quản lý điều h� nh qua mạng (email, website, giao ban trực tuyến...). Hoạt động của các cơ quan Nh� nước sẽ có 50% thông tin lưu chuyển trên mạng; 100% cơ quan có cổng thông tin điện tử để phục vụ người dân; 30% doanh nghiệp báo cáo qua mạng v� xây dựng mạng truyền số liệu tốc độ cao, đa dịch vụ từ TW đến quận, huyện.

 Đến năm 2015, các dịch vụ h� nh chính công cơ bản như đăng ký, cấp phép, thanh toán... sẽ được thực hiện trực tuyến. Các cơ sở dữ liệu về đất đai, dân cư, bản đồ địa chính, thuế, t� i chính, hải quan... cơ bản được tích hợp th� nh hệ thống thông tin quốc gia v� được đưa v� o khai thác hiệu quả.

 Năm 2020 ho� n thiện một Chính phủ tích hợp (I-Gov), tích hợp cung cấp các dịch vụ h� nh chính công liên cơ quan, tích hợp ho� n to� n các hệ thống thông tin.

Ngay trong năm nay, hệ thống thư điện tử, quản lý văn bản v� điều h� nh, cổng thông tin điện tử sẽ được ho� n thiện... Đó l� đề án vừa được Cục trưởng Cục Ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) thuộc Bộ Thông tin v� Truyền thông (TT&TT) Nguyễn Th� nh Phúc trình b� y với lãnh đạo Bộ TT&TT v� xin ý kiến của các nh� khoa học, giáo sư, chuyên gia h� ng đầu trong nước về lĩnh vực CNTT.                                                               

 

 

 

Minh họa của Lê Tiến Vượng

Quyết tâm v� trách nhiệm

 Giờ đây, ngay cả với người dân thường, khái niệm Chính phủ điện tử (CPĐT) cũng đã thật rõ r� ng v� dễ hiểu: Đó l� một Chính phủ nối mạng m� người dân có thể xin cấp giấy chứng minh nhân dân, hộ chiếu, xin giấy phép xây nh� , đăng ký kết hôn, nộp thuế... qua mạng, người dân có thể tiếp cận đề đạt các nhu cầu của mình lên các cấp chính quyền qua chiếc máy tính 24/24 giờ trong ng� y v� 7 ng� y trong tuần v� được giải quyết các nhu cầu đó đơn giản, tiết kiệm chi phí v� minh bạch.

 Với Chính phủ, lãnh đạo các cấp từ TW đến địa phương có thể điều h� nh công việc của mình thông qua trực tuyến, có thể chỉ với cái nhấp chuột sẽ biết vấn đề đang tồn tại ở từng địa phương, ng� nh nghề...

 Nói vậy, nghe chẳng hề cao siêu nhưng để l� m được thì lại chẳng đơn giản v� lộ trình CPĐT được manh nha khởi đầu từ cách đây 14 năm (Chương trình tin học hóa với Nghị định 49/CP, năm 1994) cho đến nay vẫn chỉ ở mức lấp ló hiện diện.

 Có lẽ với những người l� m CNTT, họ chưa thể quên được "nỗi đau" khi Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng phát biểu lúc ông quyết định dừng Đề án 112: "Bao nhiêu năm, tôi không thấy được lợi gì từ đề án n� y trong việc chỉ đạo điều h� nh...".

 Họ cũng vấp phải những khó khăn trùng điệp từ yếu tố "sợ" CNTT của đại bộ phận công chức h� nh chính, từ đòi hỏi một giải pháp đồng bộ cho sự khác biệt vùng miền, ng� nh nghề, sự thay đổi liên quan đến bộ máy, con người, cách l� m việc, yêu cầu công khai, minh bạch cũng đã ảnh hưởng lợi ích của một bộ phận công chức không nhỏ rồi khả năng đáp ứng công nghệ, nguồn chi phí... rồi cái nhìn thiếu thiện cảm của người dân sau vụ "con sâu 112"...

 Vì vậy, ở giai đoạn n� y, một đề án khả thi, nhanh chóng đi v� o cuộc sống thực sự l� nỗi niềm của những người l� m CNTT, với họ đó l� thách thức, l� nhiệm vụ m� họ phải ho� n th� nh, vì dân, vì nước.

 Điều n� y có thể nhìn thấy ở quyết tâm của Bộ TT&TT thông qua "Hội nghị tham vấn về đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong hoạt động cơ quan Nh� nước, phát triển CPĐT ở Việt Nam" với sự tham gia của Bộ trưởng, 4 Thứ trưởng v� gần chục nh� khoa học đầu ng� nh về CNTT v� sự chuẩn bị chu đáo, trình b� y mạch lạc của người mới được giao trọng trách Cục trưởng Cục Ứng dụng CNTT - Nguyễn Th� nh Phúc, một người trẻ tuổi, được đ� o tạo cơ bản v� có thái độ l� m việc sáng tạo, nghiêm túc.

 Sự quyết tâm n� y đã được hun đúc thêm bởi những ý kiến đóng góp đầy tâm huyết của các nh� khoa học, chuyên gia đầu ng� nh CNTT được mời tham vấn.

Có một cuộc sống điện tử vẫn vận h� nh

 Thực tế, dù việc ứng dụng CNTT trong các cơ quan Nh� nước còn rất chậm, thì ở cuộc sống thường nhật của mọi người dân nó tự động phát triển v� đem lại lợi ích cho đối tượng sử dụng.  

Theo Tiến sỹ Mai Liêm Trực - nguyên Thứ trưởng Thường trực Bộ Bưu chính viễn thông: Sở dĩ các ng� nh H� ng không, Ngân h� ng, Thuế, Hải quan... đã thực hiện ứng dụng CNTT mạnh mẽ v� th� nh công l� vì nếu không thì họ không thể điều h� nh, hoạt động, họ sẽ bị chậm trễ v� tụt hậu, không thể cạnh tranh.

 Ông Trực cũng cho rằng, khi đưa ứng dụng CNTT v� o các lĩnh vực h� nh chính công thì lĩnh vực n� y sẽ minh bạch hơn, "sạch sẽ" hơn. Khi đã cung cấp thông tin lên mạng, nhân dân biết v� sẽ giảm cò mồi, nhũng nhiễu.

 Ông Trực đặt ra câu hỏi: Phải chăng sự chậm chạp, lừng khừng v� hời hợt trong việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT v� o những lĩnh vực h� nh chính công trong thời gian qua còn vì lý do có những bộ phận công chức sợ bị ảnh hưởng đến lợi ích cá nhân?

 Tuy nhiên, ông cũng nhấn mạnh, đề án cần phải tách bạch rõ r� ng 2 mạng lưới, mạng lưới CNTT phục vụ sự điều h� nh của Chính phủ (tác nghiệp hằng ng� y của cán bộ CP các cấp) v� mạng lưới CNTT dân sinh (phục vụ công dân, cung cấp các dịch vụ công). Theo ông Trực, CPĐT phải bắt đầu từ chính quyền cơ sở, các Sở ở địa phương, bởi vì suy cho cùng, đó chính l� mạng lưới để cung cấp dịch vụ cho dân, phục vụ lợi ích v� nhu cầu của người dân. Người dân cần đến chính quyền cơ sở để giải quyết các vấn đề của họ chứ không cần đến Thủ tướng Chính phủ.

 GS,TS Bạch Hưng Khang thì yêu cầu l� m rõ về thực trạng CPĐT của chúng ta, ta đang có gì, nhu cầu của người dân đến đâu, khả năng đáp ứng của chúng ta trong từng giai đoạn cụ thể. Tuy nhiên, cần có một sự hợp tác chặt chẽ, đồng bộ giữa các ng� nh, các địa phương v� để giải quyết công việc cực khó n� y, cần có luật định rõ r� ng. Ông cũng yêu cầu phải có quy định, phân cấp trách nhiệm của từng người thực hiện đề án, theo từng giai đoạn rõ r� ng, minh bạch.

 GS Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ KHCN, lại đề xuất cần xã hội hóa việc triển khai CPĐT, phần n� o m� doanh nghiệp, người dân l� m được thì để họ tham gia, phần n� o thuộc lĩnh vực Nh� nước (chẳng hạn như cơ sở dữ liệu ng� nh) thì Bộ trưởng Bộ đó phải chịu trách nhiệm. Như vậy, sẽ tránh được tình trạng "dây thân hữu, nhóm lợi ích" tư hữu chính sách đầu tư v� giúp việc triển khai CPĐT nhanh chóng hơn.   

Tầm nhìn v� vai trò người lãnh đạo

 Hầu hết các ý kiến đều chung nhận định trong việc triển khai xây dựng CPĐT thì vai trò của người lãnh đạo l� quan trọng nhất. Tiến sĩ Đỗ Xuân Thọ, Chủ tịch Hội Tin học Việt Nam , nhận định: Do đặc thù CNTT l� đầu tư nhiều m� hiệu quả chưa rõ nên các nh� lãnh đạo thường chọn cách an to� n (đầu tư ít m� nhìn thấy ngay hiệu quả) để l� m nên việc triển khai bị chậm trễ, thiếu nhất quán.

 Đồng tình quan điểm đó, ông Trực cho rằng, nếu lãnh đạo không nhận thức được, không thúc đẩy mạnh mẽ việc ứng dụng CNTT để phục vụ con người, phục vụ nhân dân thì đất nước sẽ bị thiệt thòi. Nhu cầu có một ban điều h� nh (BĐH) cũng được đặt ra.

 Theo GS Chu Hảo, đó phải l� một BĐH gọn nhẹ, không theo kiểu đủ mặt, đủ mâm, quá nhiều ủy viên dẫn đến trường hợp "quên" như các BĐH trước. Một vấn đề đã "bị an b� i" nhưng vẫn được các nh� CNTT mong mỏi vãn hồi, đó l� được Thủ tướng Chính phủ đích thân quan tâm v� điều h� nh trực tiếp.

 Giáo sư Chu Hảo đề xuất: "Chúng ta cùng xúm v� o thuyết phục để Thủ tướng trực tiếp nắm lấy CNTT". Ông nêu thực tế về sự quyết tâm của Chính phủ trong việc xây dựng Chiến lược phần mềm thông qua Nghị quyết 07/CP v� o năm 2000. Ông bộc bạch: "Khi đó (năm 2000), chỉ có 2.000 người l� m phần mềm, vậy m� ra kế hoạch đến 2005 l� đạt 20.000 người, doanh thu 1 tỷ USD, rất nhiều người cho l� viển vông, nhất l� khi đến 2005 các chỉ tiêu không đạt được.

 Nhưng thực tế, Nghị quyết 07 đã khai sinh cho một nền công nghiệp mới của đất nước v� những chỉ tiêu đề ra, sau đó 2 năm đến 2007 đã cơ bản đạt được. Điều n� y cho thấy sự quan trọng của việc quyết tâm v� chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo Nh� nước với CNTT".

 CPĐT không không phải l� vấn đề kỹ thuật m� chính l� một cuộc cách mạng về lề lối l� m việc, ông Đỗ Xuân Thọ nhấn mạnh. Ông Thọ cũng cho rằng, vì Việt Nam đi lên từ một nền sản xuất nhỏ, nên đã ảnh hưởng đến suy nghĩ v� cách l� m. Nhưng ở thời điểm n� y, một tư duy thông thoáng xa hơn, ho� nh tráng hơn l� điều cần thiết.

 Ho� nh tráng ở đây nghĩa l� ngo� i tính cụ thể phải bao gồm tính dự báo tốt, một sự hoạch định có tầm, vượt khỏi ngưỡng của sự ăn đong của cách đầu tư manh mún m� hướng tới cái d� i hơi, bởi xây dựng CPĐT l� một quá trình liên tục, không có điểm dừng.

 V� , để có được một CPĐT sát với nhu cầu thực tiễn đất nước, cập nhật kiến thức thời đại, đảm bảo an ninh quốc phòng, thật cần đến một người cầm lái quyết đoán, có tầm nhìn vĩ mô ủng hộ v� thúc đẩy những giải pháp đột phá mang tính tiến công vì mục đích cao nhất l� phát triển nền kinh tế, hội nhập quốc tế, vì sự bình yên, no ấm hạnh phúc của nhân dân.

 

Theo báo cáo của Liên hợp quốc, chỉ số sẵn s� ng Chính phủ điện tử (e-Government Readiness Index) của Việt Nam năm 2008 đã tăng 14 bậc so với 2005, đạt 0,4558 điểm (tối đa l� 1), xếp hạng 91/182 nước được đánh giá.

 Đây l� thứ hạng cao nhất của Việt Nam từ khi Liên hợp quốc xây dựng báo cáo đánh giá, xếp hạng CPĐT, trong khi nhiều nước ASEAN giảm bậc: Philippines giảm 25 bậc; Thái Lan, Singapore v� Myanmar cùng giảm 16 bậc.

 Chỉ số website năm 2008 của Việt Nam được 0,4448 điểm, xếp hạng 63/182 (so với năm 2005 đã tăng tới 50 bậc - 0,2231 điểm đứng thứ hạng 113/179). Điều n� y có được l� nhờ sự phát triển v� ho� n thiện của các trang web của Quốc hội, của các Bộ: Y tế, Giáo dục v� Đ� o tạo, T� i chính, Lao động - Thương binh v� Xã hội.

 Về chỉ số hạ tầng viễn thông (Telecommunication Infrastructure Index), được dựa trên 5 chỉ tiêu: Số người sử dụng Internet/100 dân; số máy tính/100 dân; số đường điện thoại cố định/100 dân; số điện thoại di động/100 dân v� băng thông/100 dân, Việt Nam tăng 20 bậc, từ thứ 121 năm 2005 lên thứ 101 năm 2008.

 Nguồn: Cục Ứng dụng CNTT
(Bộ Thông tin v� Truyền thông)

H� n Phi

 Theo ANTG cuối tháng

 

 

[Trở về]
Các tin mới hơn:
Uỷ ban nhân dân thị xã Điện Bàn tổ chức tập huấn nghiệp vụ, quy trình chứng thực bản sao điện tử từ bản chính.
Thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh lưu động và trả kết quả tại nhà cho công dân trên địa bàn phường Điện Nam Bắc
Đẩy mạnh công tác chứng thực bản sao điện tử từ bản chính, góp phần thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 trên địa bàn thị xã
UBND tỉnh Quảng Nam kiểm tra công tác cải cách hành chính tại thị xã Điện Bàn
Hội Người cao tuổi phường Điện Dương với công tác Hội năm 2017
Đoàn kiểm tra công tác cải cách hành chính của tỉnh làm việc với thị xã Điện Bàn
1100/QĐ-UBND Ban hành Kế hoạch cải cách hành chính thị xã Điện Bàn năm 2016
Điện Bàn với công tác Cải cách hành chính
Họp trực tuyến ngành Nội vụ tỉnh Quảng Nam
Sở Nội vụ tỉnh Quảng Nam tổ chức cuộc họp giao ban trực tiếp với lãnh đạo Phòng Nội vụ ở 9 huyện, thành phố đồng bằng tỉnh Quảng Nam
    
1   2   3  
    
Các tin cũ hơn:
Điện B� n tổ chức tập huấn, đ� o tạo đánh gía viên nội bộ theo tiêu chuẩn ISO 9001-2000 - TL
Xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế (ISO) trong các cơ quan h� nh chính.
Ứng dụng CNTT v� o hoạt động của cơ quan nh� nước: Đến 2010, 100% cơ quan có cổng thông tin điện tử
Một số vấn đề về công tác quản trị nhân lực trong cơ quan h� nh chính huyện Điện B� n hiện nay
Phân cấp quản lý đầu tư xây dựng cho cơ sở
VÀI NÉT VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO QUẢN LÝ TRONG CÁC C� QUAN HÀNH CHÍNH HUYỆN ĐIỆN BÀN
Về Đề án thí điểm không tổ chức HĐND ở huyện, quận phường tại một số
500 xã thí điểm dân bầu trực tiếp Chủ tịch UBND
















Liên kết website

Lượt truy cập

Tổng số lượt truy cập
Lượt trong năm