Nội dung chi tiết

PHẠM NHƯ XƯƠNG (1844-1917)
Tác giả: UBND Điện Bàn .Ngày đăng: 30/01/2013 .Lượt xem: 5155 lượt. [In bài]

 

Những năm sau Cách mạng tháng Tám 1945, một số làng cũ ở Điện Bàn như Ngân Câu, Ngân Hà... hợp lại thành một xã mới, mang tên xã Như Xương. Cái tên ấy như là sự gợi nhớ về một tài học, về  cuộc đời của một con người sống có đạo đức - biểu tượng của một nhân vật giàu lòng yêu nước, có nhân cách tốt đẹp. Người ấy là Phạm Như Xương, sinh năm 1844, quê làng Ngân Thanh (sau đổi là Ngân Câu), huyện Diên Phước (nay thuộc xã Điện Ngọc, huyện Điện Bàn).

Trong “3 con chim phụng” yên nằm ở đất Gò Nổi, có lẽ riêng mộ chí cụ Phạm Tuấn ghi rõ hành trạng và tiểu sử tóm tắt. Nội dung văn bia đề trước mộ cụ như sau:

Tiến sỹ Phạm Tuấn, húy Tuấn, tự Hỷ Thần, hiệu Văn Luận, sinh ngày 24.11.1852 (Nhâm Tý) tại làng Xuân Đài, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, nay là thôn Xuân Đài, xã Điện Quang, Điện Bàn. Thân phụ Phạm Văn Vận, tự Đại Hanh; mẹ Trần Thị Hiếu, hiệu Minh Cơ.

Tiến sỹ Phạm Tuấn bản tính siêng năng, trung hiếu, học hành chăm chỉ, lúc thiếu thời ông lấy việc học làm trọng nhằm để tiến thân và làm gương cho hậu thế học tập.

1878 đỗ tú tài khoa Mậu Dần (Tự Đức năm thứ 31)   

1879 thi hương đỗ cử nhân, ông theo về tỉnh tu nghiệp 3 khóa liền đều đạt hạng ưu được triều đình thưởng “Bội Cấp Hướng Tiền”      

1885 dự thi Hội, thi Đình khoa Ất Dậu trúng cách kỳ thi này nhưng không được triều đình chuẩn nhận.

Trong thời gian 13 năm (1885 -1898) chờ đợi thi Hội thi Đình lần thứ 2 ông vẫn liên tục phục vụ triều đình, đảm nhận các chức vụ:

1889 giữ chức Huấn đạo Quế Sơn

1890 quyền nhiếp tri huyện Hà Đông

1891 làm Sơ khảo trường thi Bình Định khoa Tân Mão (Thành Thái thứ 3)

            1892 thăng làm giáo thọ và được cử giữ chức chử sự các Bộ, Nha tại Kinh

1894 làm phúc khảo trường thi hương Bình Định

1896 bổ làm giáo thọ huyện Thăng Bình. Làm việc giỏi ông được thưởng Ký Lục Nhất Thứ

1898 thi hội khoa Mậu Tuất trúng cách thứ 3, thi Đình đỗ tiến sỹ đứng thứ 5 (…) đến tháng 10 năm này ông được bổ chức Tu soạn rồi theo học tại “Tứ Dịch Quán”

1899 giữ chức Thừa biện bộ Lễ, được thưởng “Dương Ấn Ba Y Nhất Lãnh” đồng thời được thăng hàm Hàn lâm viện.

1900 bổ làm Phân khảo trường thi tỉnh Nghệ An sau đó chuyển sang Toàn Tu Sơ Ngọc Diệp. Hai năm sau được thăng Thị giảng học sĩ.

Năm 1903 được thưởng Nhất Mai Ký Lục Nhất thứ, bổ làm giám khảo trường Bình Định đến tháng 6 năm sau vì mẹ già lâm trọng bệnh ông làm đơn xin về phụng dưỡng mẹ.

Năm 1908, triều đình triệu ông ra Kinh bổ chức đốc học tỉnh Hà Tĩnh, tại đây ông đào tạo nhiều môn sinh thành đạt.

Năm 1913, ông được vua ban Hồng Lô Tự Khanh (hàm chánh tứ phẩm) rồi về hưu tại quê nhà.

Ngày 14.4 .1917, ông mất hưởng thọ 66 tuổi.

KHÚC QUANH CUỘC ĐỜI

Từ nội dung văn bia và một số sử liệu, thấy rõ những khúc quanh trong cuộc đời  cụ Phạm Tuấn. Thứ nhất, trên đường khoa cử, có lúc thi đậu với điểm ưu nhưng không được chuẩn nhận. Thứ hai, trên đường quan lộ, có lúc thăng lúc giáng, và có lúc “hồi quán” lúc ra lại làm quan.

Theo tư liệu của tộc Phạm Văn, do ông Phạm Quốc Cường (cháu 4 đời, gọi cụ Phạm Tuấn bằng ông cố chú) cung cấp, có nêu những nguyên nhân cho khúc quanh cuộc đời Phạm Tuấn, tóm lược như sau:

Năm Tự Đức thứ 31 (Mậu Dần - 1878), Phạm Tuấn đỗ tú tài cùng khoa với người anh cả là Phạm Văn Phục (tên khác là Phạm Văn Hữu?). Khoa thi Kỷ Mão 1879 đỗ cử nhân, ông theo học tại tỉnh 3 khóa đều hạng ưu nên được cấp học bổng. Tháng 6 năm Ất Dậu - 1885 (Hàm Nghi năm thứ nhất), lãnh chức vụ Bang tá phủ Điện Bàn, trong thời gian này ông tham gia nghĩa hội do Nguyễn Duy Hiệu chủ xướng được giữ chức Chánh sứ dinh điền. Nguyễn Duy Hiệu bị bắt, nghĩa hội tan, Phạm Tuấn bị cáo giác liên can và bị giáng hai cấp, bổ hàn lâm cung phụng ở tỉnh. Khoa thi hội năm Kỷ Sửu 1889, Thành Thái năm thứ nhất, ông đỗ với số điểm có dư nhưng không được vào thi đình do tiền sự tham gia nghĩa hội. Tháng 5 năm ấy bổ lãnh Huấn đạo Quế Sơn. Thành Thái năm thứ 2 (1890), tháng tư làm quyền nhiếp Tri huyện Hà Đông (Tam Kỳ) sau đó thăng thọ Huấn đạo rồi làm giám khảo trường thi hương tại Bình Đinh khoa Tân Mão (1891). Thành Thái năm thứ 9 phụng chuẩn làm giáo thọ Thăng Bình. Thành Thái năm thứ 10 (1898)- khoa thi Mậu Tuất đỗ thứ 3 vào thi đình đỗ tiến sỹ thứ 5 “sắc tứ đệ tam giáp, đồng tiến sỹ xuất thân đệ ngũ danh”. Tháng 10 năm ấy ông được bổ thăng chức tu soạn, học tiếng Pháp ở trường Quốc học. Thành Thái năm thứ 11 (1899) thăng Thừa biện bộ Lễ, đến tháng 12 phụng chuẩn thăng Thọ thừa chỉ bộ Lễ. Thành Thái thứ 12, tháng 6, Đình sử Nghệ An Trường phân khảo. Thành Thái thứ 14 tháng 3 thăng Thọ thị giảng Học sỹ. Thành Thái thứ 15, cử giám khảo hương Trường Bình Định, tháng 5 cùng năm xin nghỉ về phụng dưỡng mẹ già. Tháng 6, mẹ mất, hồi quán, về nhà để tang mẹ. Duy Tân năm thứ 2 (Mậu Thân, 1908) bổ Đốc học tỉnh Hà Tĩnh. Nhờ ông dạy giỏi, học trò thi đỗ nhiều, nên tổng đốc Hà Tĩnh đề nghị triều đình phong làm Quang Lộc Thiếu Khanh. Duy Tân năm thứ 7 (1913), do tuổi cao sức yếu ông xin về hưu, vua phong thăng Thọ Hồng Lô tự khanh.

Theo tư liệu của nhà nghiên cứu Trần Gia Phụng, Phạm Tuấn đỗ cử nhân năm 1879 (Kỷ Mão) tại trường thi Thừa Thiên, được chấm đỗ kỳ thi hội năm 1885 (ân khoa khi Hàm Nghi lên ngôi), nhưng chưa công bố kết quả thì xảy ra binh biến đêm 4-7 nên không được thừa nhận.

Đường khoa cử của Phạm Tuấn, tuy rốt cuộc tựu thành nhưng không ít gian nan. Có lẽ vì vậy, ông là người lớn tuổi nhất khi đỗ tiến sĩ với những “chim phụng” Quảng Nam. Còn về quan lộ, tuy kinh qua nhiều chức, nhưng chủ yếu gắn bó với sự nghiệp giáo dục, chỉ sống đời thanh bần. Việc ông có tham gia nghĩa hội Quảng Nam hay không cũng cần phải minh xác thêm.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 













 

CÂU CHUYỆN “NGŨ PHỤNG TỀ PHI”

            Có nhiều tư liệu đã xác tín chuyện trong một khoa thi (khoa Mậu Tuất, 1898), Quảng Nam có đến 5 người đỗ hàng đại khoa, gồm 3 tiến sỹ, 2 phó bảng. Bia tiến sĩ số 26 đặt tại Văn Miếu Huế có đề  danh các vị trúng tuyển khoa thi năm Mậu Tuất. Văn bia này được phiên âm và dịch nghĩa như sau (chúng tôi thêm dấu ngắt câu cho dễ đọc- NV):

Hoàng triều Thành Thái thập niên Mậu Tuất khoa Tiến sĩ đề danh bia

Tứ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân nhất danh Ðào Nguyên Phổ: tọa giám cử nhân niên canh Tân Dậu tam thập bát tuế, Thái Bình tỉnh, Thái Ninh phủ, Quánh Côi huyện, Ðồng Trực tổng, Thượng Phán xã.

Tứ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân thất danh: Phạm Liệu tòng tỉnh cử nhân niên canh Quý Dậu nhị thập lục tuế, Quảng Nam tỉnh, Ðiện Bàn phủ, Diên Phước huyện, Hòa Thượng tổng, Trừng Giang xã; Phan Quang tòng tỉnh cử nhân niên canh Quý Dậu nhị thập lục tuế, Quảng Nam tỉnh, Thăng Bình phủ, Quế Sơn huyện, Xuân Phú trung, tổng Phước Sơn thượng xã;  Nguyễn Quý Song, Giáp Ngọ khoa cử nhân niên canh Giáp Tý tam thập ngũ tuế, Nghệ An tỉnh, An Sơn phủ, Nam Ðàn huyện, Xuân Liên tổng, Xuân Liễu xã. Nguyễn Văn Trình tọa giám ấm sinh cử nhân niên canh Nhâm Thân nhị thập thất tuế, Hà Tĩnh tỉnh, Ðô Liêu tổng, Kiệt Thạch xã, Cơ Trúc thôn; Phạm Tuấn, Thăng Bình phủ giáo thọ cử nhân xuất thân niên canh Nhâm Tý tứ thập thất tuế, Quảng Nam tỉnh, Ðiện Bàn phủ, Diên Phước huyện, Phú Khương thượng tổng, Xuân Ðài thôn; Nguyễn Tự Như, Tuy An phủ, dực thiện cử nhân xuất thân niên canh Canh Thân tam thập cửu tuế, Quảng Trị tỉnh, Triệu Phong phủ, Gio Linh huyện, An Xá tổng, Hà Thượng xã; Bùi Thức, Bính Tuất khoa nhân niên canh Kỷ Mùi tứ thập tuế, Hà Nội tỉnh, Lý Nhân phủ, Thanh Liêm huyện, Mơ Trường tổng, Châu Cầu xã.

Dịch nghĩa:

Bia đề tên Tiến sĩ khoa Mậu Tuất hoàng triều Thành Thái năm thứ 10
             Ban đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân một người: Ðào Nguyên Phổ, cử nhân, học trường Quốc Tử Giám, sinh năm Tân Dậu, ba mươi tám tuổi, người làng Thượng-Phán, tổng Ðồng-Trực, huyện Quánh-Côi, phủ Thái-Ninh, tỉnh Thái-Bình.
            Ban đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân bảy người, gồm:
            - Phạm Liệu, cử nhân, học trường tỉnh, sinh năm Quý Dậu, hai mươi sáu tuổi, người làng Trừng Giang, tổng Ða Hòa thượng, huyện Diên Phước, phủ Ðiện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
           - Phan Quang, cử nhân, học trường tỉnh, sinh năm Quý Dậu, hai mươi sáu tuổi, người làng Phước Sơn thượng, tổng Xuân Phú trung, huyện Quế Sơn, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.

- Nguyễn Quý Song, cử nhân khoa Giáp Ngọ, sinh năm Giáp Tý, ba mươi lăm tuổi, người làng Xuân Liễu, tổng Xuân Liên, huyện Nam Ðàn, phủ An Sơn, tỉnh Nghệ An.

- Nguyễn Văn Trình, cử nhân, ấm sinh học trường quốc tử giám, sinh năm Nhâm Thân, hai mươi bảy tuổi, người thôn Cơ Trúc, làng Kiệt Thạch, tổng Ðô Liêu, huyện Can Lộc, phủ Ðức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

- Phạm Tuấn, Giáo thọ phủ Thăng Bình, xuất thân cử nhân, sinh năm Nhâm Tý, bốn mươi bảy tuổi, người thôn Xuân Ðài, tổng Phú Khương thượng, huyện Diên Phước, phủ Ðiện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

- Nguyễn Tự Như, Dực thiện phủ Tuy An, xuất thân cử nhân, sinh năm Canh Thân, ba mươi chín tuổi, người làng Hà Thượng, tổng An Xá, huyện Gio Linh, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

- Bùi Thức, cử nhân khoa Bính Tuất, sinh năm Kỷ Mùi, bốn mươi tuổi, người làng Châu Cầu, tổng Mơ Trường, huyện Thanh Liêm, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nội. 

            Theo nghiên cứu của Trần Gia Phụng, những thí sinh trúng cách Tiến sĩ mới được khắc tên vào bia đá còn những người đỗ Phó bảng thì không. Khoa này ngoài 8 Tiến sĩ còn lấy đỗ 9 Phó bảng, trong đó hai người Quảng Nam là ông Ngô Truân (Ngô Lý) đứng đầu và ông Dương Hiển Tiến đứng cuối danh sách Phó bảng. Trong khoa thi đình năm Mậu Tuất 1898, không có ai đỗ Đệ nhất giáp hay Tiến sĩ cập đệ. Người đỗ đầu chỉ là Đệ nhị giáp tức Hoàng giáp hay Tiến sĩ xuất thân, sau đó là 7 đồng Tiến sĩ xuất thân (hạng thứ) cộng thêm 9 Phó bảng, tất cả là 17 người. Chín Phó bảng là: Ngô Truân, Nguyễn Viết Tuyên, Nguyễn Duy Thắng, Nguyễn Thiện Kế, Nguyễn Ðạo Quán, Nguyễn Văn Ðàm, Nguyễn Ðức Ðàm, Trần Ðình Bách, Dương Hiển Tiến. Vậy, Quảng Nam có 5 người đỗ đạt cao trong khoa thi này, trong đó có 3 Tiến sĩ và 2 Phó bảng. Thứ tự đỗ cao thấp là: Phạm Liệu, Phan Quang, Phạm Tuấn (đồng Tiến sĩ xuất thân), Ngô Truân, Dương Hiển Tiến (Phó bảng).

            Về danh xưng “Ngũ phụng tề phi” của Quảng Nam, cùng lễ đón rước các vị đỗ đạt cao “vinh quy bái tổ” hiện tồn tại một số giả thuyết.

            Nhà nghiên cứu Thy Hảo Trương Duy Hy, dẫn theo “Đây Quảng Nam” (Vũ Lang, NXB Thời Mới, Đà Nẵng, 1973), và tư liệu của cụ Phạm Phú Hưu, có thuật lại rằng: khi tổng đốc Ðào Tấn nhận được tin Quảng Nam có 5 vị đỗ đại khoa, thì cùng lúc đó "...Có một vị lão thành biết được, liền loan truyền cho mọi người hay. Và nhân dân Quảng Nam trong niềm hãnh diện chung đã lũ lượt đi từ Vĩnh Ðiện đến chân Hải Vân quan để chào mừng 5 vị tân khoa Ngũ Phụng Tề Phi...". Dọc hai bên đường từ đèo Hải Vân đến Vĩnh Ðiện, hương lý sức dân quét dọn sạch sẽ. Mỗi làng đều có đặt một bàn hương án bên vệ đường (trong địa phận làng mình, nơi các tân khoa đi ngang qua). Vị chức sắc cao nhất trong làng, trang phục chỉnh tề, áo rộng, khăn đóng, cùng thân hào nhân sĩ trong làng chuẩn bị sẵn sàng để nghinh đón. Các vị tân khoa đi ngựa sau 4 chữ “Ân Tứ Vinh Quy” của vua ban (Nhà thờ cụ Phan Quang ở Quế Sơn hiện còn giữ quý vật này). Mỗi lần đến nơi có bàn hương án thì xuống ngựa, đón nhận sự vái chào và chào trả lễ của hương chức sở tại. Xong, được mời ăn một miếng trầu cau hoặc hút một điếu thuốc, uống một chén rượu mừng...Ðôi bên bày tỏ niềm hân hoan về kết quả kỳ thi...rồi lại lên ngựa, từ từ tiến về Vĩnh Ðiện.

Riêng danh xưng “Ngũ phụng tề phi” ít nhất cho 4 cách lý giải.

Thứ nhất, theo Thái Văn Kiểm (Cố đô Huế, Nha Văn hóa, Bộ Quốc gia giáo dục, Sài Gòn – 1960, trang 166) giải thích rằng sau khi năm thí sinh cùng tỉnh Quảng Nam đồng thi đỗ, vua Thành Thái (trị vì 1889-1907) và triều đình Huế "ban cho mới vị bốn chữ Ngũ phụng tề phi (năm con phụng cùng bay).
           Thuyết thứ hai, theo Phạm Ngô Minh, Trương Duy Hy (Khoa bảng Quảng Nam dưới thời nhà Nguyễn  (1601 -1919), Đà Nẵng, 1995, tr 212), thì danh “Ngũ phụng tề phi” xuất phát từ lá cờ do ông Ðào Tấn (1845-1907) tặng. Đó là khi các tân đại khoa trở về Quảng Nam, tổng đốc Quảng Nam lúc ấy là Ðào Tấn và Đốc học Quảng Nam là Trần Ðình Phong đã tặng lá cờ thêu 4 chữ này cho các tân khoa.

Thuyết thứ ba, cũng liên quan đến lá cờ thêu 4 chữ “Ngũ phụng tề phi” nhưng cho đó là lá cờ của đoàn hát bội. Theo đó, ngày xưa, trước khi trình diễn vở tuồng hát bội chính thức, các thầy tuồng, tức các đạo diễn, cho bắt đầu buổi hát bằng một màn giáo đầu ngắn về một chuyện thời sự, thường thường là chúc tụng về một sự kiện quan trọng hoặc một chuyện vui vẻ mới xảy ra cho quan khách hoặc gia đình quan khách. Như thế, có đoàn tuồng (do Đào Tấn lập ra để diễn các vở tuồng do ông soạn), nhân sự kiện 5 người Quảng Nam đỗ đạt cao mà tổ chức buổi hát, trong đó có màn giáo đầu bằng lá cờ và lời chúc tụng.

            Với những tra cứu từ Quốc triều đăng khoa lục, tiểu sử Đào Tấn (Tổng đốc Quảng Nam), Lô Giang tiểu sử của Nguyễn Văn Mại (làm Án sát ở Quảng Nam), cùng các tài liệu khác, nhà nghiên cứu Trần Gia Phụng không đồng ý với 3 thuyết nêu trên. Theo ông, “có lẽ chỉ có giả thuyết về điển tích Trung Hoa là hợp lý hơn cả: Theo sách Lư Lăng thi chú, bên Trung Hoa, thời Tống Thái Tông (trị vì 976-1003), có năm người cùng quận Lư Lăng tên là Giả Hoàng Trung, Tống Bạch, Lý Chí, Lã Mông Chính, Tô Dị Giản, cùng trúng tuyển chức "Hàn lâm học sĩ". Một vị đại quan trong triều đình tên Hổ Mông, đã làm thơ mừng các tân quan Hàn lâm học sĩ, trong đó có câu "Ngũ phụng tề phi nhập hàn lâm", nghĩa là "Năm con chim phụng cùng bay vào viện hàn lâm". Do tích này, có người hay chữ trong dân gian biết được chuyện xưa, đã vinh danh năm vị đại khoa Quảng Nam năm Mậu Tuất (1898) là "Ngũ phụng tề phi". Từ đó, chuyện "Ngũ phụng tề phi" được truyền khẩu lan rộng ra, dần dần trở thành một huyền thoại mà không ai biết xuất xứ. Ðây là một huyền thoại dân gian, chứ không phải huyền thoại cung đình hay quan lại”.
           

GIAI THOẠI CÒN TRUYỀN

Mặc dầu các cách lý giải danh xưng “Ngũ phụng tề phi” chưa thống nhất, cũng chưa có hội thảo khoa học nào được tổ chức để giải quyết vấn đề cho ngã ngũ, nhưng lâu nay, người Quảng Nam luôn coi đó là danh xưng thực tế, truyền tụng, tự hào. “Ngũ phụng tề phi” trở thành giai thoại để tôn vinh sự học, đất học Quảng Nam. Và, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân, trong hội thảo “Quảng Nam- Những giá trị đặc trưng”, đã nêu lại danh xưng này, đồng thời nhắc nhớ một điều rằng, Quảng Nam còn có nhiều con chim phụng không cùng bay nhưng đã dày công vun đắp cho văn hóa xứ Quảng, công nghiệp với dân tộc và đất nước còn lớn hơn “Ngũ phụng tề phi” rất nhiều. Đó là các bậc danh nhân như Phạm Phú Thứ, Hoàng Diệu, Trần Quý Cáp, Trần Cao Vân, Phạm Như Xương, Nguyễn Duy Hiệu…

Trở lại với giai thoại về cụ Phạm Tuấn cùng “Ngũ phụng tề phi”, nhiều tư liệu nghiên cứu cho biết Tổng đốc Đào Tấn có làm thơ tặng các vị tân khoa nhân buổi tiệc mừng. Trong đó có 3 bài thơ riêng tặng 3 tiến sĩ:

1. Bài tặng tiến sĩ Phạm Liệu:
Nguyên tác:
Chiết quế nhơn tùng nguyệt điện lai
Ðình bôi vị vấn thiếu niên tài
Khán hoa mã quá song kiều lộ
Thùy vị nam nhi đệ nhất mai.

Bản dịch:
Bẻ về cành quế Hằng Nga
Chén nồng, xin hỏi trẻ mà tài cao
Xem hoa cởi ngựa qua cầu
Cành nam ai kẻ trổ đầu hoa mai.

2. Bài tặng tiến sĩ Phan Quang :

Nguyên tác:
Giang sơn thành thục vị tài đa,
Tam quế tề khai nhất vạn hoa,
Cánh hữu Quảng Hàn cung tại khách,
Dũ tương thể bút tả Hằng Nga.

Bản dịch:
Non sông un đúc lắm tài cao
Ba cụm đơm bông quế một màu
Có khách Quảng Hàn vừa mới đến
Bút hoa tô nét nguyệt thanh tao.

3. Bài tặng tiến sĩ Phạm Tuấn:

Nguyên tác:

Vận hội tuần hoàn ngũ thập niên
Thứ ban  tương kế xuất danh hiền
Trúc Ba nhơn khứ Hà Ba tại
Nhụy bảng do truyền Giáp Ất niên.


Bản dịch:

Cơ trời mấy chục năm qua
Cõi Nam liên tiếp sinh hoa ngạt ngào
Trúc tàn Hà nở thơm sao
Bảng đề Giáp Ất ai nào dám tranh.

(Bản dịch khác của cụ Nguyễn Bội Liên:
Năm mươi năm hội tuần ho

[Trở về]
Các tin mới hơn:
HOÀNG DIỆU (1829 – 1882)
PHẠM PHÚ THỨ (1821-1882)
NGUYỄN THÀNH Ý (1820-1897)
PHẠM HỮU NGHI (1798-1862)
TRẦN ĐĂNG LONG (1760 – 1828)
PHAN THANH (1908-1939)
LÊ ĐÌNH DƯƠNG (1894-1919)
MAI DỊ ( 1884-1928)
PHAN THÀNH TÀI (1878-1916)
PHAN THÚC DUYỆN (1873-1944)
    
1   2  
    
Các tin cũ hơn:
LÊ ĐỈNH (1840 -1933) NHÀ KHOA BẢNG THỨC THỜI







Liên kết website

Lượt truy cập

Tổng số lượt truy cập
Lượt trong năm